Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp, (mặc dù công nghiệp là một ngành rộng lớn then chốt) mà còn bao hàm cả sự phát triển trong các lĩnh vực như giao thông vận tải, hậu cần, dầu và khí đốt, y tế, giáo dục, tòa nhà và các thành phố thông minh. Đó chính là sự biến đổi về số trên các thị trường toàn cầu với tác động từ cấp vĩ mô, trung gian đến cấp vi mô.

Sự lan truyền hiệu quả của cuộc cách mạng 4.0, sự chuyển dịch sang số hóa, công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) và mạng lưới vạn vật kết nối Internet (Internet of Things) đã diễn ra với tốc độ chóng mặt và có liên quan đến nhiều thách thức mà các chính phủ, các tổ chức và đặc biệt là công ty đang phải đối mặt. Sự khác nhau trong các điều kiện cần thiết, ví dụ như hạ tầng ICT, là điều tất nhiên phải chấp nhận giữa các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển, và giữa các ngành trong bối cảnh cách mạng 4.0.

Ngành công nghiệp và các nhà hoạch định chính sách nhận thức những cơ hội phát triển to lớn từ sự chuyển dịch sang số hóa, sự kết nối bên trong và những công nghệ sản xuất mới của cách mạng 4.0. Những biến đối này dẫn đến các mô hình kinh doanh mới, việc sử dụng hiệu quả và có tính bền vững về nguồn lực hữu hạn và quá trình sản xuất đạt được hiệu quả về chi phí với các sản phẩm có tính tùy biến cao, cho thấy một sự chuyển dịch, sự linh hoạt và độ nhạy bén chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

1. Cơ hội, thách thức của Việt Nam trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Dưới tác động chung, Việt Nam không tránh khỏi việc phải đối mặt với các thách thức và cơ hội mang lại từ cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hay cách mạng 4.0. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng thách thức là nhiều và lớn hơn so với cơ hội Việt Nam có được. Với đặc điểm là nước phát triển đi sau thì Việt Nam có thể học hỏi được nhiều từ các nước phát triển đi trước, có cơ hội “đi tắt đón đầu”. Việt Nam có thể học hỏi áp dụng những mô hình kinh doanh thích hợp đã được thử nghiệm và triển khai trước tại các nền kinh tế tiên tiến. Tuy nhiên, Việt Nam đứng trước nhiều thách thức lớn, đặc biệt là công nghệ, nguồn nhân lực, chính sách và cơ sở hạ tầng.

Công nghệ Việt Nam thì chỉ được đánh giá ở mức trung bình. Tuy vậy, Chỉ số Sáng tạo Toàn cầu năm 2017 (GII-2017) cho thấy một phần sự cải thiện đáng kể của Việt Nam trên bản đồ về công nghệ và sáng tạo của thế giới, theo báo cáo GII-2017, Việt Nam được xếp hạng thứ 47/127 về đổi mới sáng tạo toàn cầu, vượt 12 bậc so với 2016 (xếp thứ 59). Kết quả GII 2017 cho thấy những nỗ lực phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam những năm gần đây mới bắt đầu thể hiện kết quả, vì đóng góp của khoa học công nghệ thể hiện kết quả tích lũy sự đầu tư cho khoa học công nghệ của một quá trình, hơn nữa khoa học công nghệ không đứng một mình mà nó song hành với tất cả các ngành/lĩnh vực khác.

Ngoài ra, Việt Nam còn đang phải đối mặt với những yếu kém rất căn bản: chất lượng nguồn lao động phần lớn chưa đáp ứng với năng suất lao động còn thấp, một phần do chất lượng hệ thống dạy và học còn kém. Ở cấp trung ương cũng như địa phương, còn thiếu khuôn khổ pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo một cách cụ thể, rõ ràng và có hiệu quả, từ đó phần lớn doanh nghiệp trong nước ít sáng tạo, và thậm chí thiếu năng lực nghiên cứu và phát triển, đồng thời năng lực nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu nhà nước còn yếu kém, thị trường chuyển giao công nghệ rất thưa thớt; Việc thực hiện chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự chưa có kết quả đáng kể, đặc biệt doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận vốn để thúc đẩy đổi mới công nghệ.... Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, trong đó hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo còn yếu kém do thiếu các phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu…

Tuy nhiên, ngành công nghệ thông tin và truyền thông (TT-TT) của Việt Nam được các quốc gia, đối tác nước ngoài đánh giá là một ngành đầy hứa hẹn phát triển của Việt Nam, có thể minh chứng qua một số con số thuộc thị trường và thương mại như sau:

Về viễn thông, tổng doanh thu dịch vụ viễn thông năm 2017 ước tính đạt 6,9 tỷ USD, trong đó dịch vụ dữ liệu điện thoại di động chiếm tỷ trọng chủ yếu (36,8%). Viettel, Mobifone, và VNPT-Vinaphone là những nhà cung cấp viễn thông thống thị thị trường Việt Nam với hơn 90% thị phần. Dịch vụ 4G được đầu tư mạnh từ năm 2017 cho thấy tối ưu hơn và còn mở rộng nhanh chóng hơn nữa trong thời gian sắp đến.

Về mạng điện thoại di động, theo Bộ TT-TT, năm 2016 Việt Nam có khoảng 128 triệu người sử dụng điện thoại di động. Tính đến tháng 1.2017, số lượng người đăng ký internet băng rộng cố định là 9,3 triệu, số người sử dụng internet trên di động qua mạng 3G là gần 44 triệu. Thị trường internet Việt Nam được dự đoán sẽ còn phát triển với tốc độ nhanh chóng tương đương 9%/năm trong vài năm tới nhờ vào sự phát triển mạnh các ứng dụng, thương mại điện tử và truyền hình internet.

Tốc độ đô thị hóa ở Việt Nam đạt khoảng 3,4%/năm trong giai đoạn 2010 - 2015, và hiện tại có khoảng 1 trong 3 người Việt Nam là sống ở khu vực thành thị. Với dự báo của Liên Hiệp Quốc, đến năm 2040, ½ dân số Việt Nam là sống ở khu vực thành phố, điều này đặt ra nhiều thách thức cho các chính quyền thành thị, yêu cầu đặt ra đối với cả chính quyền trung ương và chính quyền cấp độ tỉnh/thành phố khu vực đô thị cần nhanh chóng xây dựng mô hình thành phố thông minh để cải thiện dịch vụ cung cấp cho người dân với chi phí tối ưu.

Lợi thế về sự phát triển nhanh của internet và điện thoại di động sẽ hỗ trợ cho những giải pháp xây dựng thành phố thông minh và chính phủ điện tử, với dự báo khoảng 52% dân số Việt Nam sử dụng internet. Trong 128 triệu người sử dụng điện thoại di động thì 16% là sử dụng điện thoại thông minh.

Hơn nữa, chính phủ Việt Nam đã và đang ưu tiên khuyến khích phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, khuyến khích doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ và giải pháp hướng đến phát triển thành phố thông minh.

Trước sự lan rộng và ảnh hưởng của cách mạng 4.0, Việt Nam có những cơ hội lớn có thể kể ra như sau:

- Phát triển nguồn vốn con người và kỹ năng, nhờ điều kiện tiếp cận nhanh chóng và dễ dàng hơn bao giờ hết các nguồn kiến thức, thông tin, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, quản lý mới trên thế giới…

- Tạo lập khu vực doanh nghiệp năng động và có năng lực đổi mới sáng tạo, đang có lợi thế và xu thế có thể bắt kịp với các công nghệ tiên tiến nhất của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

- Nâng cao hiệu lực của hệ thống đổi mới sáng tạo, và thay đổi quan điểm lành mạnh về chấp nhận rủi ro trên cơ sở nghiên cứu và thấu hiểu những tác động tích cực của cách mạng 4.0; ban hành các chính sách phát triển nguồn nhân lực với khoa học công nghệ phải được xem là rường cột để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội…

2. Tiềm năng, lợi thế phát triển của thành phố Đà Nẵng trong thời đại 4.0

2.1. Thành phố Đà Nẵng được đánh giá là một trung tâm phát triển công nghệ thông tin và truyền thông của khu vực miền Trung và Tây nguyên, là một trong 3 trung tâm lớn của quốc gia, có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh có tính kết nối quốc tế, cụ thể:

- Đứng đầu cả nước về chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT trong 8 năm liền (2009 - 2016)

- Có 03 khu công nghệ thông tin đang hoạt động (Khu công viên phần mềm số 1, Khu phức hợp FPT Đà Nẵng, Tòa nhà Phần mềm FPT Đà Nẵng), 01 Khu công nghệ cao (1.128,4 ha), và 01 công viên phần mềm (341 ha) đang được xây dựng.

- Tính đến năm 2016, tại Đà Nẵng có 700 doanh nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông (ICT).

- Về nhân lực trong lĩnh vực ICT, sinh viên chuyên ngành ICT hiện khoảng 15.184 sinh viên, trong tổng số 126.172 sinh viên trên địa bàn thành phố, với 20/25 trường đại học và cao đẳng có đào tạo chuyên ngành ICT, và 23 khoa đào tạo chuyên ngành ICT.

- Doanh thu xuất khẩu sản phẩm phần mềm năm 2016 đạt 58 triệu USD, năm 2017 ước đạt 67 triệu USD, tăng 15% so với năm 2016 (Hình 1 dưới đây).

Hình 1. Kim ngạch xuất khẩu phần mềm của thành phố Đà Nẵng
từ năm 2012 - 2017

Nguồn: Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư thành phố Đà Nẵng, Báo cáo Kết quả thực hiện công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018 của Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng

Trên địa bàn thành phố, các doanh nghiệp trong ngành TT-TT có tốc độ tăng trưởng tốt đó là: Viettel (7%); VNPT Đà Nẵng (12%); Mobile phone (13%); Chi nhánh Công ty Phần mềm FPT Đà Nẵng (30%); Chi nhánh công ty TNHH Axon Active Việt Nam tại Đà Nẵng (20%); Công ty TNHH MTV Tư Vấn Giải pháp CNTT Toàn Cầu Xanh (27%); Bưu điện Đà Nẵng (37%); Công ty Cổ phần công nghệ Tâm Hợp Nhất (40%); Công ty TNHH Phần mềm Công nghệ cao Sioux (40%)...

2.2. Về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thành phố Đà Nẵng có những chính sách, chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được triển khai trong những năm gần đây bắt đầu thể hiện kết quả tích cực.

Thành phố Đà Nẵng coi trọng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với việc quy hoạch 7 khu nông nghiệp công nghệ cao ở huyện Hòa Vang, và tạo điều kiện tốt nhất để người nông dân tiếp cận với nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, với kỳ vọng sự đóng góp của khoa học và công nghệ trong việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào xây dựng các mô hình sản xuất tiến tiến, bảo vệ môi trường, đặc biệt là các mô hình sản xuất sạch hơn.

Thành phố Đà Nẵng cũng tiên phong trong ban hành và thực hiện các chính sách, chương trình phát triển khởi nghiệp, đặc biệt có tính đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực ưu tiên phát triển của thành phố như công nghệ thông tin, du lịch, y tế, giáo dục, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao… có ứng dụng công nghệ tiên tiến, mô hình kinh doanh mới.

Thành phố khuyến khích phát triển các vườn ươm doanh nghiệp, không gian làm việc cho khởi nghiệp sáng tạo, các không gian sáng tạo, nghiên cứu… bằng việc “đỡ đầu” thành lập Vườn ươm doanh nghiệp Đà Nẵng theo hình thức đối tác công tư với 2/3 nguồn vốn là từ ngân sách thành phố. Đây hiện là mô hình vườn ươm doanh nghiệp tiên phong, được kỳ vọng sẽ hoạt động hiệu quả nhằm góp phần xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp thành phố và kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia, khu vực và thế giới.

2.3. Chính quyền điện tử phục vụ cải cách hành chính

Thành phố Đà Nẵng đã xây dựng và khánh thành Hệ thống thông tin chính quyền điện tử vào tháng 7.2014, đặt nền móng đưa ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông phục vụ rộng rãi tổ chức, cá nhân, tiến đến phát triển mô hình thành phố thông minh. Hệ thống thông tin Chính quyền điện tử Đà Nẵng (egov.danang.gov.vn) là nền tảng tích hợp hàng loạt ứng dụng Chính quyền điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu nền tảng như cơ sở dữ liệu dân cư, địa lý, thông tin quản lý, thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến.

Tính đến năm 2016, 100% cơ quan hành chính các cấp (phường, xã, quận, huyện, sở, ngành) đã sử dụng chung hệ thống một cửa điện tử, cho phép liên thông, chuyển hồ sơ điện tử giữa tất cả các cơ quan đơn vị. Hệ thống một cửa điện tử của thành phố Đà Nẵng còn liên kết với cơ sở dữ liệu dân cư, cho phép truy xuất dữ liệu của một triệu dân hiện có, rút ngắn thời gian thao tác cũng như hình thành dữ liệu giao dịch thủ tục hành chính của công dân. Trên hệ thống chính quyền điện tử, thành phố đã xây dựng mới, chuyển đổi hơn 500 dịch vụ công trực tuyến. Một số đơn vị sở, ngành đã ứng dụng một cách có hiệu quả việc tiếp nhận và xử lý nhiều thủ tục, hồ sơ hoàn toàn trực tuyến…

Đối với các thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp, đến hết năm 2015, 100% việc kê khai thuế và nộp tờ khai hải quan tại Đà Nẵng đã được thực hiện qua mạng; tiếp đến thành phố cũng đã thí điểm và hoàn thành việc triển khai nộp thuế điện tử, triển khai thực hiện thủ tục bảo hiểm xã hội qua mạng. Năm 2016, thành phố Đà Nẵng tiếp tục là một trong các địa phương thí điểm các thủ tục hành chính trực tuyến liên quan đến Kho bạc Nhà nước…

Những thành công bước đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng chính quyền điện tử tại thành phố Đà Nẵng cũng góp phần vào kết quả thành phố Đà Nẵng được đánh giá cao nhiều năm liền về Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) (giữ vị trí dẫn đầu cả nước 4 năm liền giai đoạn 2013 - 2016, Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index) đứng đầu 03 năm liên tiếp 2012 - 2014…

2.4. Về xây dựng thành phố thông minh, hiện nay, Đà Nẵng đã xây dựng bước đầu một số mục tiêu của thành phố thông minh như: giám sát xe buýt bằng thiết bị định vị, tốc độ, thời gian qua trạm để cung cấp thông tin cho người dân; camera giám sát trật tự giao thông; cảm biến phân tích chất lượng nước Nhà máy nước Cầu Đỏ...

Đối với các dịch vụ công, thành phố đã triển khai các ứng dụng cụ thể, thông qua việc phối hợp với các doanh nghiệp có năng lực về công nghệ, đặc biệt như Viettel, triển khai Phần mềm y tế điện tử cho các đơn vị cung cấp dịch vụ công (56/56 trung tâm y tế xã, phường, 02 trung tâm y tế quận, huyện); triển khai ban đầu hồ sơ y tế điện tử và mã (id) bệnh nhân; triển khai phần mềm tuyển sinh trực tuyến áp dụng cho tuyển sinh ở cấp quận (quận Liên Chiểu trong năm học 2017 - 2018) và triển khai cổng giao tiếp ngành giáo dục và đào tạo…

Đà Nẵng định hướng xây dựng thành phố thông minh theo hướng thân thiện môi trường, phát triển bền vững nhằm phục vụ quản lý hạ tầng đô thị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng.

3. Một số hàm ý chính sách nhằm phát triển kinh tế thành phố Đà Nẵng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Việt Nam đang ở ngã rẽ trên quá trình phát triển, với thành tựu tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây là khá ấn tượng. Tuy nhiên, để thúc đẩy tăng trưởng trong điều kiện ngày càng hạn chế về lao động và vốn, Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng phải hướng tới tăng trưởng dựa trên tăng năng suất lao động. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao đáng kể năng lực đổi mới sáng tạo trong nước, trên cơ sở tranh thủ các sáng kiến hỗ trợ từ các quốc gia, tổ chức trong khu vực và trên thế giới. Một số hàm ý về chính sách phát triển thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, qua tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước, có thể bao gồm như sau:

1. Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt công nghệ thông tin, bao gồm internet và 4G, 5G để có thể đón và hưởng lợi từ những tiến bộ công nghệ mới của thế giới, đặc biệt quan tâm đến vấn đề quản trị an ninh mạng.

2. Chú trọng đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng một cách hiệu quả, từ giáo dục phổ thông cho đến giáo dục bậc đại học, cao đẳng. Đây là tầm nhìn đúng đắn để giáo dục và đào tạo được con người với trình độ công nghệ, kỹ năng đáp ứng yêu cầu của cách mạng 4.0.

3. Xây dựng văn hóa doanh nhân, tinh thần đổi mới sáng tạo của thanh niên, sinh viên, học sinh thông qua hỗ trợ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, phát triển ý tưởng kinh doanh sáng tạo trong các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông; khuyến khích các hình thức đào tạo chính quy và không chính quy về kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp trong bối cảnh tình hình mới.

4. Tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, khuyến khích hình thành và phát triển doanh nghiệp ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp trẻ nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực công nghệ mới, sáng tạo với mô hình kinh doanh mới, tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, giữa các khu vực kinh tế, tạo nền tảng cho sự minh bạch và giải trình, thúc đẩy kinh tế và xã hội phát triển bền vững.

5. Các sở, ngành cần nghiên cứu để hiểu rõ hơn về khái niệm, tầm nhìn, tác động của cuộc cách mạng 4.0 vì nó không chỉ tác động riêng rẽ một ngành, lĩnh vực nào, từ đó mới có những sáng kiến và thực hiện theo cách thức mới, mô hình mới phù hợp với cuộc cách mạng hoàn toàn mới này. Đồng thời, hiểu được vai trò mới của nhà nước và mục đích, phương thức… quản lý nhà nước trong bối cảnh mới.

Thành phố cần có những nghiên cứu dự báo một cách khoa học và cụ thể đối với tình hình sử dụng lao động, thị trường lao động dưới tác động của cuộc cách mạng 4.0. Đây là một vấn đề quan trọng có thể dẫn đến những vấn đề xã hội to lớn: việc làm, thu nhập, phúc lợi xã hội… Đồng thời có những giải pháp, chính sách cho những kịch bản xảy ra…            

Dù tình thế diễn ra theo kịch bản nào, chính quyền thành phố cũng đóng vai trò hoạch định, quản lý và kiểm soát những tác động đối với kinh tế - xã hội thành phố khi Đà Nẵng đang trong giai đoạn chuyển đổi để thực sự bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Trong viễn cảnh lạc quan, xuất hiện công nghệ mới tạo ra nhiều việc làm hơn so với số việc làm cũ bị đào thải, hay trong kịch bản tiêu cực hơn, thất nghiệp xảy ra trầm trọng, người dân mất thu nhập tối thiểu, các vấn đề xã hội xảy ra…, thì chính quyền địa phương vẫn đã có những tiên liệu và biện pháp, chính sách kịp thời về kinh tế và xã hội.

                                                                  Hà Mai Linh Phùng 

                                                                  ThS., Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng

 CHÚ THÍCH

1 Chỉ số Sáng tạo Toàn cầu GII do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) phối hợp với Viện Quản trị Kinh doanh châu Âu (INSEAD-Pháp) và Đại học Cornell (Mỹ) xây dựng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.   Sở Thông tin và Truyền thông Đà Nẵng. 2018. Báo cáo Kết quả thực hiện công tác năm 2017 và triển khai nhiệm vụ năm 2018 ngành thông tin và truyền thông thành phố Đà Nẵng. Đà Nẵng.

2. Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư thành phố Đà Nẵng. 2018. Đầu tư tại thành phố Đà Nẵng - Thành phố đáng sống và đầu tư. Đà Nẵng.

3. Trung tâm Internet Việt Nam. 2017. Thông báo số liệu phát triển internet việt Nam. Hà Nội

4. Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. 2014. Báo cáo đánh giá khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam.

5. Sở Nội vụ. 2016. Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng chính quyền điện tử tại thành phố Đà Nẵng. Đà Nẵng. 

 

12/03/2018
 

 

 

 

Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp thành phố Đà Nẵng
31 Trần Phú, Hải Châu, Đà Nẵng, Việt Nam
Website: http://khoinghiep.danang.vn
©2016 Bản quyền thuộc Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp thành phố Đà Nẵng

LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI
Điện thoại: +84 0236 3550003
Email: khoinghiep@danang.gov.vn

 

 

Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp thành phố Đà Nẵng
31 Trần Phú, Hải Châu, Đà Nẵng, Việt Nam
Website: http://khoinghiep.danang.vn
©2016 Bản quyền thuộc Hội đồng Điều phối Mạng lưới Khởi nghiệp thành phố Đà Nẵng

LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI
Điện thoại: +84 0236 3550003
Email: khoinghiep@danang.gov.vn